Sự “thảm bại” của các nhà lý luận thuộc nhóm “nhai lại”

Anh Đài

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình phát triển, chủ nghĩa Mác -Lênin luôn phải đối mặt với đủ loại trào lưu tư tưởng đối nghịch, từ các học giả tư sản đến những kẻ cơ hội – xét lại nằm ẩn núp trong phong trào công nhân. Tất cả, dù dưới hình thức nào, cũng đều chung một mục đích là nhằm bóp chết chủ nghĩa Mác, loại bỏ mọi ảnh hưởng của nó đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động nói riêng, loài người nói chung để duy trì sự thống trị lâu dài của chủ nghĩa tư bản. Khi các nhà kinh điển còn sống, bằng những lý luận sắc bén và giàu sức thuyết phục, cùng với thực tiễn thắng lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tất cả những trào lưu tư tưởng đối lập đó đều lần lượt bị đánh bại, đẩy lui. Nhưng cũng như mọi cuộc cách mạng xã hội đã từng diễn ra trong lịch sử, cách mạng xã hội chủ nghĩa không phải (và không thể) diễn ra một cách thuận lợi, với những thắng lợi đi lên không ngừng. Nó không thể không trải qua những bước thử nghiệm đầy khó khăn, thử thách, không thể tránh khỏi những khi thất bại, những bước thụt lùi. Chính khi đó, những kẻ cơ hội, những phần tử chống đối lại được dịp trỗi dậy, dùng mọi biện pháp để phủ nhận tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một ví dụ. Lợi dụng tình thế “đục nước béo cò”, các học giả tư sản, các phần tử cơ hội – xét lại, mà đại diện là Trúc Giang cố tìm mọi cách để gán ghép sự sụp đổ này với sự cáo chung của chủ nghĩa Mác.

Trước hết, chúng cho rằng cái “sai lầm từ gốc” của học thuyết Mác – Lênin bắt nguồn từ “mâu thuẫn trầm trọng ngay từ trong trứng nước” của Mác, đó là “một mặt thừa nhận bản chất xã hội là có giai cấp, một mặt lại xúi giục, kích động đấu tranh giai cấp để xóa bỏ cái bản chất xã hội đó” nhằm đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa, một chế độ xã hội không còn giai cấp, không còn người bóc lột người. Do đó, chủ nghĩa cộng sản chỉ là viển vông và không tưởng! Rằng, C.Mác đã nói đấu tranh giai cấp dẫn đến chuyên chính vô sản, nhưng chuyên chính vô sản là cái gì thì chưa chắc Mác đã hiểu! Rõ ràng, không khó để nhận ra sự “ngô nghê” và bế tắc trong quan điểm này của các “học giả” thâm thù chủ nghĩa cộng sản. Chúng ta đều biết, lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp là một trong những nội dung căn bản nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết quả tất nhiên của quan niệm duy vật về lịch sử. C.Mác không đơn lập trong việc đưa ra học thuyết về giai cấp, mà ông đã kế thừa một cách chọn lọc và sáng tạo tư tưởng của các nhà triết học và xã hội học trước đó để xây dựng học thuyết của mình, nâng nó lên một tầm cao mới. Trên cơ sở vận dụng và mở rộng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào xem xét lĩnh vực xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã luận giải một cách khoa học vấn đề giai cấp. Theo C.Mác, sự phân chia xã hội thành giai cấp là kết quả tất nhiên của những chế độ kinh tế – xã hội nhất định trong lịch sử. Quan hệ giai cấp chính là biểu hiện về mặt xã hội của những quan hệ sản xuất, trong đó tập đoàn người này có thể bóc lột lao động của tập đoàn người khác. Trong xã hội có giai cấp, đấu tranh giai cấp là quy luật phát triển tất yếu của xã hội. Tính tất yếu của đấu tranh giai cấp xuất phát từ tính tất yếu kinh tế, từ sự đối lập về lợi ích căn bản không thể điều hoà được giữa các giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải là hiện tượng vĩnh viễn trong lịch sử. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa các giai cấp trong lịch sử tất yếu phát triển đến cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản. Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp vô sản đứng lên giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính của mình và thông qua nền chuyên chính đó tiến hành cải tạo triệt để xã hội cũ, tiến tới xoá bỏ mọi đối kháng giai cấp, xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa. Các học giả, trong đó có học giả tư sản đều thừa nhận sự tồn tại của giai cấp và đối kháng về lợi ích giữa các giai cấp là tất yếu. Nhưng điều phi lý ở chỗ, dù thấy rõ sự đối kháng về lợi ích giữa các giai cấp trong xã hội có giai cấp, các học giả tư sản vẫn tìm mọi cách để phủ nhận đấu tranh giai cấp, để từ đó phủ nhận tính tất yếu của việc đi đến xã hội cộng sản chủ nghĩa. Suy cho cùng, chỉ có những người chống lại chủ nghĩa Mác mới tự mâu thuẫn với chính mình. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã phát triển lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp để chứng minh tính tất yếu của việc ra đời xã hội cộng sản bằng một cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, từ đó chỉ ra con đường, biện pháp để giai cấp công nhân và nhân dân lao động đứng lên thực hiện cuộc cách mạng xã hội lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản. Đó là quy luật khách quan của lịch sử. Các ông không cần, và cũng không thể “xúi giục” để nhân loại thực hiện cuộc cách mạng xã hội vĩ đại này.

Để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân – “nội dung căn bản, điểm chủ yếu” trong học thuyết Mác – Lênin, thay vì những phản bác bằng lý luận, các phần tử chống phá lại đưa ra những lý do hết sức thô thiển rằng: “Công nhân chỉ biết đến cái búa đóng đinh và nông dân thì chỉ biết đến cái lưỡi hái gặt lúa thì biết gì mà lãnh đạo đất nước một khi làm cách mạng thành công”! Rõ ràng, bản thân những “lý luận” này đã cho thấy đầy đủ những hạn chế trong nhận thức về giai cấp của các “học giả” muốn chống phá chủ nghĩa Mác. Họ không biết, hay cố tình đơn giản hóa việc xem xét bản chất một giai cấp đến mức thô thiển như vậy? Thử hỏi, ngoài việc thỏa mãn cơn cuồng trí căm thù cộng sản, những lập luận như thế này sẽ thuyết phục được ai?

Để thêm phần “thuyết phục” cho cái gọi là “sự thảm bại của cách mạng vô sản”, những phần tử chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin còn so sánh cách mạng tư sản với cách mạng vô sản, cho rằng “cách mạng tư sản giúp cho loài người phát triển”, “cách mạng vô sản đưa nhân loại vào chỗ tối tăm, lạc hậu và nghèo khổ”. Cách so sánh này chẳng khác nào một trò bịp bợm mà ai cũng có thể bóc mẽ một cách dễ dàng. Cách mạng tư sản có vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của loài người, khi nó kết thúc sứ mạng của giai cấp địa chủ phong kiến và chế độ phong kiến đã lỗi thời, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nhiều lần nhấn mạnh điều này. Nhưng đến lượt chế độ tư bản chủ nghĩa lại không thể tự vượt thoát ra khỏi được những mâu thuẫn của chính nó, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển với trình độ xã hội hóa ngày càng cao và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu, biểu hiện ra về mặt xã hội là mâu thuẫn đối kháng không thể dung hòa giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Lực lượng sản xuất càng phát triển bao nhiêu thì sứ mệnh ban đầu của giai cấp tư sản càng thu hẹp bấy nhiêu. Giá trị của cuộc cách mạng tư sản chỉ có ý nghĩa trong một thời đại lịch sử nhất định, nó sẽ phải được thay thế bằng một cuộc cách mạng xã hội toàn diện, triệt để hơn là cách mạng vô sản, tiến tới chế độ cộng sản chủ nghĩa, một chế độ xã hội dựa trên sự công hữu về tư liệu sản xuất, giải phóng hoàn toàn sự phát triển của lực lượng sản xuất, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng người bóc lột người. Những thành tựu của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu – một mô hình còn nhiều khiếm khuyết, chưa hoàn bị, lại được xây dựng trong bối cảnh các nước tư bản chủ nghĩa điên cuồng chống phá – vẫn đủ cho thấy tính ưu việt hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa so với xã hội tư bản. Những mâu thuẫn nội tại không thể tháo gỡ trong lòng xã hội tư bản hiện nay, dù luôn bị che lấp bởi nhiều thủ đoạn khác nhau, vẫn đủ cho thấy nó không phải là một chế độ xã hội mà loài người hướng đến, không thể là cái đích cuối cùng của nhân loại. Vì thế, cách so sánh giữa cách mạng vô sản với cách mạng tư sản của các học giả trên đây càng cho thấy sự lố bịch về tư duy và phương pháp của họ.

Bi hài hơn nữa, họ còn cho rằng cách mạng tư sản còn là “mầm ươm rất tốt cho phong trào đấu tranh dân chủ đòi độc lập của các quốc gia thuộc địa trên thế giới”. Họ cố tình quên đi rằng, chủ nghĩa tư bản, với hình thức cực đoan của nó là chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự áp bức dân tộc; rằng trong suốt chiều dài phát triển của chủ nghĩa tư bản cho đến nay, các dân tộc bị áp bức đã đứng lên đấu tranh giành độc lập, tự do từ đâu nếu không phải từ chính tay các nước đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc là mầm họa cho nhân loại, là biểu tượng u ám nhất của sự nô dịch, áp bức dân tộc bỗng chốc lại trở thành “mầm ươm cho phong trào đấu tranh dân chủ đòi độc lập của quốc gia thuộc địa trên thế giới”. Thật nực cười! Có lẽ, những lập luận này đúng, theo cái nghĩa, nếu không có sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, không có chủ nghĩa đế quốc, thì cũng không có tình trạng dân tộc này đi xâm lược, áp bức, bóc lột dân tộc khác, từ đó cũng không có đấu tranh giải phóng dân tộc!

Có thể nói, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại đã là một phần không thể thiếu trong suốt chiều dài lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Các học giả tư sản và những kẻ cơ hội chủ nghĩa hôm nay, hoặc nên từ bỏ ý định, hoặc hãy tìm một cách nào đó thuyết phục hơn, thay vì những “xảo biện” cùn mòn, luẩn quẩn, bế tắc như thế này. Nó chẳng khác nào là cách phơi bày sự thảm bại của lý luận phi vô sản trước tượng đài vững chãi, vinh quang của chủ nghĩa Mác – Lênin./.

Bình luận bằng tài khoản Facebook

0 thoughts on “Sự “thảm bại” của các nhà lý luận thuộc nhóm “nhai lại”

  • 20 Tháng Chín, 2015 at 10:25 chiều
    Permalink

    Động vật “nhai lại” mà cũng có lý luận sao? Trách nào chúng bị thất bại thảm hại là phải, đúng k Anh Đài?

    Reply
  • 22 Tháng Chín, 2015 at 10:25 chiều
    Permalink

    Rắn là một loài bò… sát không chân, sát không chân….
    Bọn này cũng giống trâu bò, nhưng lại giống vẹt hơn./.

    Reply

Gửi phản hồi

423891total sites visits.