Không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám

Trong lịch sử, mỗi cuộc cách mạng xã hội nổ ra, giành thắng lợi đều có nguyên nhân chủ quan và khách quan; trong đó, nhân tố quyết định là lực lượng tiên phong lãnh đạo và sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam là một cuộc cách mạng như thế. Đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận.

Thế nhưng, vẫn cứ có quan điểm cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi là nhờ “ăn may” mà có(!) Đây là luận điệu sai trái, phản khoa học, nằm trong âm mưu và chiến lược chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, phản động, mà trước hết là chĩa mũi nhọn chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với những thắng lợi vĩ đại của các mạng, những sự kiện lịch sử của dân tộc qua các thời kỳ. Trong đó, luận điệu lố bịch nêu trên về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chỉ là một trong những dẫn chứng điển hình.

Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sáng lập mùa Xuân năm 1930 đã đề ra mục tiêu và kiên trì lãnh đạo toàn dân tộc đấu tranh làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, tạo tiền đề để xây dựng một xã hội tốt đẹp – xã hội xã hội chủ nghĩa; kết hợp chặt chẽ giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội, vì quyền tự do, hạnh phúc của người dân Việt Nam bị đọa đầy, đau khổ dưới ách áp bức thống trị của chế độ thực dân, phong kiến. Sự thật lịch sử là trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi, từ lập trường Cần Vương đến xu hướng tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với cương lĩnh, đường lối đúng đắn, phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế lúc bấy giờ, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới. Trải qua các cao trào cách mạng: 1930-1931, 1936-1939 và đặc biệt là cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945, trực tiếp dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Lịch sử càng lùi xa, với hiện thực và tư liệu sống động càng làm rõ sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám – cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của thế kỷ XX. Hiện thực khách quan này không thể phủ nhận!

Điều đó được thể hiện trước hết là Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu và không ngừng phát triển, hoàn thiện đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngay từ năm 1920, tại nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ quan điểm: độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi hiểu. Cương lĩnh năm 1930 của Đảng hướng chủ yếu vào mục tiêu đánh đổ sự thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày và cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho toàn dân. Tư tưởng đặt lên hàng đầu mục tiêu giải phóng dân tộc của Người được Hội nghị Trung ương Đảng (tháng 11-1939) đặc biệt nhấn mạnh và khi cách mạng thành công sẽ xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến, đánh đổ chế độ thực dân, xây dựng chính thể cộng hòa dân chủ Việt Nam. Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới và trong nước lúc bấy giờ, Đảng chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; đặt khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm. Tập trung xây dựng Mặt trận Việt Minh, khối đại đoàn kết toàn dân tộc với chương trình hành động và những chính sách cụ thể, thiết thực; chú trọng phân tích tình thế cách mạng và nắm bắt thời cơ; thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động; xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng; chủ động đề ra đường lối, chủ trương nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết, đã dẫn dắt phong trào cách mạng không ngừng phát triển và thành công. Đường lối đó dựa trên sự phân tích và nhận thức sâu sắc đặc điểm, hoàn cảnh của đất nước, những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội, nguyện vọng, khát vọng độc lập, quyền sống của nhân dân và sự phát triển của tình hình quốc tế. Đồng thời, là sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về chiến tranh và cách mạng, về khởi nghĩa vũ trang, về vấn đề chính quyền nhà nước. Bởi thế, Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra đúng như chủ trương, định hướng của Đảng và giành thắng lợi. Giá trị khoa học và thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám không tách rời quan điểm, đường lối sáng tạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nguyên nhân dẫn đến thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám có cả khách quan và chủ quan. Chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của nhân tố khách quan, đó là sự biến chuyển của tình hình thế giới, khu vực ở thời điểm đó đã tác động tích cực, tạo thuận lợi đối với cách mạng Việt Nam. Nhưng phải thấy nhân tố chủ quan, đó là sự nỗ lực của Đảng và nhân dân ta giữ vai trò quyết định. Điều đó thể hiện ở đường lối, chủ trương, phương pháp cách mạng đúng đắn và biểu hiện cụ thể ở việc nắm bắt và tận dụng thời cơ chín muồi cũng như tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng đủ mạnh để sẵn sàng cho tổng khởi nghĩa. Sự thật là vậy, mà sự thật lịch sử thì mãi mãi là sự thật và giá trị của nó là ở đó. Thế nhưng các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị vẫn ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật, dù họ vẫn biết là vô vọng. Thật vô lý, kệch cỡm và nực cười!

Để chuẩn bị thực lực cách mạng, đảm bảo cho tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng tổ chức Việt Minh để giác ngộ, tập hợp quần chúng nhân dân. Từ lực lượng chính trị của quần chúng để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng: Đội Cứu quốc quân (1941), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22-12-1944) và Việt Nam giải phóng quân (15-5-1945). Lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng lãnh đạo tạo nên sức mạnh của cách mạng, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Trong cao trào giải phóng dân tộc, lực lượng chính trị của quần chúng được tập hợp trong Mặt trận Việt Minh nhằm động viên cao độ ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước của nhân dân. Mặt trận có hệ thống tổ chức chặt chẽ với chương trình hành động và chính sách cụ thể, nên có vai trò to lớn trong đoàn kết lực lượng toàn dân, tuyên truyền và hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Thành viên của Mặt trận là các hội: Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Văn hóa cứu quốc,… có vai trò rất quan trọng trong huấn luyện, tuyên truyền và tổ chức đấu tranh, tạo sức mạnh tổng hợp của cách mạng. Sự kết hợp phát triển lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, phát triển phong trào cách mạng ở vùng rừng núi, nông thôn, đồng bằng và các đô thị là nét nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, bảo đảm sự chủ động và hỗ trợ giữa các địa bàn cả nước. Từ khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi từng bước đã củng cố và phát triển sức mạnh thực tế của cách mạng. Đứng về phe đồng minh chống phát-xít, song Đảng luôn nhấn mạnh phải tăng cường thực lực cách mạng của chính mình mới có thể giành được thắng lợi. Cách mạng phải có sức mạnh thật sự, không được ỷ lại vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Nhân tố chủ quan và nội lực, ý chí tự lực, tự cường bao giờ cũng có vai trò quyết định, thuận lợi từ hoàn cảnh khách quan là quan trọng cần biết tranh thủ. Đó là những vấn đề cần được nhận thức rõ trong khoa học lãnh đạo cách mạng.

Sự nghiệp cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản và Hồ Chí Minh lãnh đạo, ngay từ đầu đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phấn đấu vì sự nghiệp đấu tranh chung của loài người chống áp bức, bất công và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Chủ nghĩa quốc tế được Việt Nam – Hồ Chí Minh biểu hiện không chỉ trong quan hệ với những người đồng chí cùng ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa, mà còn với tất cả người yêu chuộng hòa bình, khát vọng độc lập, tự do trên thế giới. Hồ Chí Minh là chiến sĩ quốc tế lỗi lạc và Người đã rèn luyện Đảng tinh thần quốc tế cao cả đó. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trở thành một bài học lớn của cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, chúng ta đã tranh thủ sự giúp đỡ của các nước đồng minh ủng hộ Việt Nam – yếu tố rất quan trọng làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công. Đồng thời, cũng thể hiện sự tài tình của Đảng, Bác Hồ trong chỉ đạo chiến lược cách mạng, tập hợp lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh đổ thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ để giành thắng lợi nhanh và ít tổn thất. Từ tháng 6-1940, khi nước Pháp bị phát-xít Nhật xâm chiếm, thế lực Pháp ở Đông Dương suy yếu, Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy cơ hội giành độc lập. Người đã quyết định cùng các đồng chí của mình trở về Tổ quốc. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941) đã phân tích thời cơ cách mạng và đặt ra yêu cầu chủ động nắm bắt thời cơ trên cơ sở thúc đẩy phát triển mạnh mẽ lực lượng cách mạng về mọi mặt. Tháng 10-1944, Hồ Chí Minh có thư gửi đồng bào toàn quốc, trong đó nêu rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”1. Phải làm nhanh nghĩa là ra sức phát triển lực lượng, thực lực của cách mạng để khi có cơ hội thuận lợi mới có thể đi tới thành công. Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12-3-1945) phân tích sự khủng hoảng chính trị – mâu thuẫn Nhật – Pháp; sự phát triển của phong trào cách mạng trên cả nước và vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước và thúc đẩy cơ hội giúp cho những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi. Tháng 8-1945, cao trào cách mạng giải phóng phát triển mạnh mẽ trên cả nước và khi Nhật đầu hàng đồng minh, Đảng đã phát động tổng khởi nghĩa. Thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám là ở nửa cuối tháng 8-1945. Nếu khởi nghĩa trước khi Nhật đầu hàng đồng minh, cách mạng sẽ gặp khó khăn; nếu để qua tháng 8 mới khởi nghĩa, cách mạng sẽ phải đương đầu với khó khăn, phức tạp khi quân đồng minh (Anh, Trung Hoa) kéo vào để tước vũ khí quân Nhật và thực hiện những toan tính của họ. Khi đó, quân Pháp lợi dụng sự thất bại của Nhật để quay lại cai trị Việt Nam và Đông Dương như trước ngày 09-3-1945. Đó là những nguy cơ mà Đảng, Hồ Chí Minh đã phân tích và phải vượt qua. Phát huy ý chí tự lực tự cường và sức mạnh toàn dân tộc, chủ động đón thời cơ và đẩy lùi nguy cơ, là thành công nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Đảng.

Sự lãnh đạo của Đảng còn thể hiện ở ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu, dù phải hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Nghị quyết của Hội nghị toàn quốc của Đảng (ngày 14 và 15-8-1945) đã nêu rõ: “1. Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới. 2. Tình thế vô cùng khẩn cấp. Tất cả mọi việc đều phải nhằm vào ba nguyên tắc: a) Tập trung – tập trung lực lượng vào những việc chính. b) Thống nhất – thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy. c) Kịp thời – kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội. 3. Mục đích cuộc chiến đấu của ta lúc này là giành quyền độc lập hoàn toàn”2. Để đẩy lùi nguy cơ, Đảng nhấn mạnh: “Chính sách chúng ta là phải tránh cái trường hợp một mình phải đối phó với nhiều lực lượng đồng minh (Tàu, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta và đặt Chính phủ của Pháp Đờ-Gôn hay một chính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc. Bởi vậy, cần phải tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Mỹ chống lại mưu mô của một số quân phiệt Tàu định chiếm nước ta. Dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi giữa ta và đồng minh”3. Những quyết định sáng suốt và sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng tạo, quyết đoán của Đảng, cùng với sự chủ động, năng động, trách nhiệm cao trong lãnh đạo khởi nghĩa của các tổ chức đảng và Việt Minh ở các địa phương đã làm nên thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Với đường lối đấu tranh vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc, vì nền độc lập hoàn toàn, Đảng đã tập hợp đoàn kết toàn dân, cổ vũ bởi tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập, tự do và với vai trò tổ chức, chỉ đạo sáng tạo, tập trung, thống nhất, kịp thời, chọn đúng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, đã đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi vẻ vang, mở ra thời đại mới của lịch sử dân tộc – thời đại đất nước được độc lập, nhân dân làm chủ và từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thật lịch sử sáng tỏ như ánh sáng mặt trời, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam và được nhân dân thế giới khâm phục.

Tất cả những điều đó đã thể hiện rõ sự tài tình, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu – yếu tố quyết định để làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Những luận điệu cố tình phủ nhận, xuyên tạc lịch sử là hành động phản khoa học, với mưu đồ xấu. Về đạo lý, đó là hành động vô ơn đối với các thế hệ đã làm nên lịch sử. Về chính trị, là thể hiện lập trường chống cộng, phản động, đối lập với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và nhân dân. Những người cố tình xuyên tạc sự thật về Cách mạng Tháng Tám cần nghiên cứu, tìm hiểu kỹ sự đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thấy được sự thật về thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc4.

PGS, TS. NGUYỄN TRỌNG PHÚC

___________________

1 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 538.

2 – ĐCSVN – Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 424-425.

3 – Sđd, tr. 427.

4 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 25.

Nguồn: Tạp chí Quốc phòng toàn dân, ngày 18/8/2016

Bình luận bằng tài khoản Facebook

Gửi phản hồi

error: Content is protected !!