CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT TỐC ĐỘ CAO BẮC – NAM

Gần đây, trên trang mạng baotiengdan.com xuất hiện bài viết của Trân Văn với tiêu đề: “Động cơ nào khiến chính phủ vận hành với tốc độ cao” đã xuyên tạc về chủ trương xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam ở nước ta. Tuy nhiên, sự thật không như luận điệu trong bài viết của y, bởi vì:

Thứ nhất, chủ trương xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn vì ngành đường sắt đã quá lạc lậu so với sự phát triển của đất nước, khu vực hiện nay. Theo số liệu của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR), mạng lưới đường sắt quốc gia nước ta có tổng chiều dài 4.161 km, với 2.651 km đường chính tuyến, đi qua 34 tỉnh, thành phố. Với hệ thống nhà ga có 260 ga trên tuyến, phần lớn quy mô nhỏ, hạ tầng cũ, chiều dài đường ga (đường đón – gửi) ngắn, đa số chỉ đạt từ 350 – 400m. Các vấn đề về kết cấu hạ tầng đường sắt còn rất lạc hậu, như: bình diện hạn chế, độ dốc dọc lớn, cầu yếu, hầm yếu… là những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao tải trọng, tốc độ chạy của tàu và năng lực chuyên chở trên các tuyến. Hệ thống thông tin tín hiệu trên các tuyến không đồng bộ về công nghệ, kỹ thuật, mỗi tuyến, khu đoạn lại sử dụng một công nghệ… Hệ thống đường sắt nước ta hiện được vận hành với gần 300 đầu máy đang hoạt động, song phần lớn đều là những đầu máy cũ có tuổi đời từ 30 năm trở lên đã lạc hậu.

Việc hiện đại hóa ngành đường sắt nhất là mở rộng khổ đường ray lên đường đôi, khổ 1435mm sau nhiều năm chưa thực hiện được. Thời gian chạy tàu Hà Nội – Sài Gòn là 52 giờ năm 1989 và đến nay là mới chỉ đạt 29 giờ. Công suất và tốc độ của đầu máy thấp, tiêu hao nhiều nhiên liệu. Toa tàu khách và tàu hàng của đường sắt cũng được khai thác nhiều năm với nhiều chủng loại, gây khó khăn, trở ngại trong vận hành, bảo trì, sửa chữa. Trong khi đó, ngành đường sắt các nước trong khu vực đã hiện đại hóa vượt xa so với nước ta. Với thực trạng ngành đường sắt ở nước ta như vậy thì việc nghiên cứu dự án xây dựng đường sắt tốc độ cao là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan để phát triển đất nước hiện nay.

Thứ hai, Chính phủ Việt Nam chủ động rà soát, thận trọng tiến hành trong từng khâu, từng bước để nghiên cứu toàn diện dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Đến nay việc nghiên cứu đề xuất dự án đường sắt tốc độ cao của Chính phủ đã được 10 năm. Tháng 4/2010, dự án đường sắt cao tốc Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh được Chính phủ trình Quốc hội. Tuy nhiên, Quốc hội khóa XII, tại kỳ họp thứ 7 (tháng 6/2010) đã chưa thông qua, vì cần được nghiên cứu kỹ hơn. Giai đoạn 2011-2013, với sự hỗ trợ kỹ thuật của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Bộ Giao thông Vận tải tập trung nghiên cứu hai đoạn tuyến Hà Nội – Vinh và Thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang với quy mô đường đôi, khổ 1.435 mm, tốc độ thiết kế 200 km/h và 350 km/h. Giai đoạn 2017-2019Luật Đường sắt được Quốc hội phê duyệt vào năm 2017 tạo hành lang pháp lý để nghiên cứu dự án đường sắt tốc độ cao.

Năm 2017, Bộ Giao thông Vận tải đã giao Liên danh tư vấn Tedi – Tricc – TediSouth phối hợp tư vấn quốc tế nghiên cứu lại dự án đường sắt tốc độ cao. Tháng 2/2019, Bộ Giao thông Vận tải đã trình Thủ tướng báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, đồng thời Bộ đã trao đổi, thống nhất với 20 địa phương thuộc phạm vi nghiên cứu dự án và tổ chức 3 hội thảo lớn, 4 báo cáo chuyên đề để lấy ý kiến phản biện của các nhà khoa học, chuyên gia. Ngày 11/7/2019, Thủ tướng đã quyết định thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước để thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Ngày 11/02/2020, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu Bộ Giao thông Vận tải hoàn chỉnh tờ trình về chủ trương xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Phó thủ tướng giao Bộ Giao thông Vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện công tác lập, thẩm định và phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư xây dựng đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, bao gồm cả đánh giá tác động môi trường của dự án phù hợp với quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng. Như vậy, việc nghiên cứu dự án đầu tư xây dựng đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam là một quá trình khá dài, được chính phủ tiến hành rất chặt chẽ, khoa học, phù hợp với thực tế hiện nay.

Đến nay dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam mới chỉ dừng lại ở báo cáo tiền khả thi có được triển khai thực hiện hay không còn tùy thuộc vào đánh giá và quyết định của Quốc hội. Vậy mà, Trân Văn lại ra sức xuyên tạc, chống phá với những luận điệu phản động, sai sự thật. Rõ ràng, Trần Văn muốn kích động nhân dân không tin vào các dự án phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời gây nghi kỵ, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước hòng thực hiện âm mưu xấu, độc của chúng. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, sàng lọc thông tin, tuyệt đối không nghe, không tin vào những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của chúng nói chung về dự án đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam nói riêng./.

Bình luận bằng tài khoản Facebook

2 thoughts on “CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT TỐC ĐỘ CAO BẮC – NAM

Leave a Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

shares