Đại tướng Lê Đức Anh – những chiến công không thể phủ nhận

Ngay sau khi Đại tướng Lê Đức Anh vừa qua đời, đám “kền kền” trên Danlambaovn đã có hàng loạt bài viết với luận điệu cực kỳ phản động, nhằm đả kích, bôi nhọ Đại tướng và các đồng chí cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Trong đó bài viết: “Hội nghị Thành Đô – Cầu hòa với Bắc Kinh ở thế Kim Ngưu” của Âu Dương Thệ.

1. Không thể phủ nhận những cống hiến to lớn của Đại tướng Lê Đức Anh.

Cuộc đời của Đại tướng Lê Đức Anh gắn liền với những chiến thắng oanh liệt của lịch sử nước nhà. Là một vị tướng trận mạc, có tầm nhìn chiến lược và tài chỉ huy xuất sắc, cuộc đời binh nghiệp của Đại tướng gắn với nhiều chiến trường từ Nam ra Bắc và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả trên chiến trường nước bạn. Là Chủ tịch nước, rồi Cố vấn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và kể cả khi đã nghỉ công tác, Đại tướng Lê Đức Anh luôn có nhiều đóng góp tâm huyết cho sự nghiệp phát triển đất nước, củng cố quốc phòng – an ninh…

Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ta đã ghi nhận và trao nhiều phần thưởng cao quý. Ấy vậy mà, bè lũ phản động trên Danlambao lại dám lộng ngôn khi cố tình bóp méo sự thật lịch sử, quy chụp cho Đại tướng và những người cộng sản kiên trung khác là “đảng trước, nước sau”, “dám tháo ngòi nổ xung đột biên giới Việt – Trung suốt cả trên ngàn cây số thì “tháo ngòi nổ” ở Gạc Ma không phải là chuyện lớn dưới con mắt của Lê Đức Anh…”

Những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, yêu cầu đổi mới toàn diện để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước đã đặt lên vai những người lính trách nhiệm nặng nề. Khi còn là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lê Đức Anh là một trong những người đầu tiên đưa ra đề xuất: tiến hành phá thế bao vây cấm vận của Mỹ, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và gia nhập ASEAN. Khi được giao nhiệm vụ “mở đầu” đó, Đại tướng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Điển hình là năm 1986, trên cương vị Tổng Tham mưu trưởng, Đại tướng đã quyết định lùi Quân đoàn 29 về phía sau, không đưa các đơn vị chủ lực áp sát biên giới. Đó không chỉ là một quyết định quân sự, mà hơn thế, còn có ý nghĩa rất quan trọng, tác động lớn tới các lĩnh vực khác, vừa giảm bớt gánh nặng quốc phòng cho nền kinh tế nước nhà đang hết sức khó khăn, vừa góp phần trực tiếp làm dịu tình hình căng thẳng ở biên giới phía Bắc, tạo thuận lợi cho hội đàm giữa ta và Trung Quốc[1].

Sau sự kiện Gạc Ma năm 1988, Đại tướng Lê Đức Anh đã trực tiếp ra kiểm tra tình hình và chỉ đạo xây dựng thế trận phòng thủ ở Trường Sa tại Lễ kỷ niệm 33 năm Ngày thành lập Quân chủng Hải quân, cùng với cán bộ chiến sĩ ở Trường Sa, Đại tướng đã đọc lời thề quyết tâm bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu. “Lời thế ấy đã trở thành một khoảnh khắc lịch sử, sẽ còn được khắc ghi mãi mãi trong các thế hệ người Việt yêu nước”[2]. Kiên trì khôi phục tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc, đồng thời nhất quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc của chúng ta – đấy là những gì mà Đại tướng đã nói và làm trong suốt cuộc đời của mình.

Chúng ta không thể kể hết những chiến công, những đóng góp to lớn của Đại tướng cho non sông, đất nước Việt Nam.

2. Hội nghị Thành Đô là hệ quả tất yếu của bối cảnh lịch sử.

Bôi nhọ, vu khống Đại tướng Lê Đức Anh chưa đủ, đám phản động trên Danlambao đã xuyên tạc sự thực về Hội nghị Thành Đô, vu cáo chúng ta cầu hòa với Bắc Kinh bằng những trích dẫn được cắt xén, hoặc những “hồi ức” của một vài vị “trời ơi” nào đó, để quy kết rằng, Việt Nam “xin làm kiếp “Trâu vàng” cho Bắc Kinh… mở ra kỷ nguyên đưa Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc cả chính trị lẫn kinh tế”.

Sự thật, Hội nghị Thành Đô là cuộc hội đàm của lãnh đạo cao cấp hai nước Việt – Trung, diễn ra từ ngày 03-04/9/1990 tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) bàn về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc. Nhìn lại lịch sử, từ cuối những năm 1989 cho đến đầu năm 1990, hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đang ở vào giai đoạn thoái trào, chủ nghĩa đế quốc điên cuồng chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, vừa bao vây cấm vận kinh tế, vừa đẩy mạnh chạy đua vũ trang… Và nham hiểm hơn cả là chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, hòng chống phá các nước XHCN trên mọi lĩnh vực, tình hình đó đòi hỏi Việt Nam và Trung Quốc phải cải thiện quan hệ, gác lại quá khứ, đoàn kết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thù đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Điều đáng chú ý là, sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, trước sự công kích mạnh mẽ của dư luận quốc tế nhằm vào chính phủ Trung Quốc, nhất là trước sức ép của các đòn trừng phạt kinh tế và nguy cơ về sự can thiệp quân sự của phương Tây, đã buộc ban lãnh đạo nước này phải có những bước đi phù hợp để tránh nguy cơ đổ vỡ của chế độ. Hơn nữa, lúc này mối lo ngại ngày càng tăng của các nước ASEAN về ý đồ của Trung Quốc trong khu vực cũng đe dọa đến khả năng kiểm soát của Trung Quốc, buộc nhà cầm quyền Bắc Kinh phải sớm đi tới thỏa thuận, vừa đảm bảo được lợi ích của Trung Quốc ở khu vực, vừa tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong giải quyết vấn đề Campuchia. Một mối lo ngại khác tuy mơ hồ nhưng lại khá hiện hữu đó là, nếu tiếp tục duy trì sự thù địch với Việt Nam, trong thời điểm mà cả Việt Nam và Mỹ đang xúc tiến ngoại giao để tiến tới bình thường hóa quan hệ sau chiến tranh, khả năng sẽ đẩy Việt Nam xích lại gần Mỹ hơn và về lâu dài, điều này là bất lợi với Trung Quốc.

Với Việt Nam, sau chiến tranh chống Mỹ, đất nước bị tàn phá nặng nề, khi mà nền kinh tế gần như kiệt quệ, Việt Nam lại bị Mỹ và đồng minh bao vây cấm vận, trong khi chỗ dựa Liên Xô và hệ thống CNXH Đông Âu thì đang tan rã. Sau hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ với Trung Quốc, cũng là 10 năm cả dân tộc phải căng hết sức mình trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, tuy Việt Nam đã giúp Campuchia ổn định tình hình nhưng tàn quân Khmer Đỏ với sự hậu thuẫn của Mỹ và Trung Quốc hoàn toàn có thể quay trở lại. Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam rút quân khỏi Campuchia thuận lợi đồng thời cũng mở ra cơ hội hợp tác với các nước ASEAN. Hơn thế, Trung Quốc với tư cách là nước láng giềng có cùng ý thức hệ, lại là một quốc gia rộng lớn, đông dân nhất thế giới, việc bình thường hóa quan hệ Việt – Trung còn giúp Việt Nam có được đối tác kinh tế tiềm năng góp phần giải quyết bài toán tụt hậu kinh tế của Việt Nam lúc bấy giờ. Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc cũng sẽ mở ra cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ, nước luôn muốn tranh giành ảnh hưởng của mình ở Đông Nam Á (thực tế là Mỹ và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ sau đó 4 năm).

Như vậy, trong bối cảnh đó, việc Việt – Trung phải nhanh chóng đi đến thỏa thuận nhằm bình thường hóa quan hệ là điều đương nhiên. Đâu phải như luận điệu phản động của Âu Dương Thệ là nhằm “cứu đảng bằng mọi giá”, “sẵn sàng “vạn biến”… phải cầu hòa… để giữ cái “bất biến” là giữ độc quyền cho Đảng Cộng sản”. Việc tổ chức Hội nghị Thành Đô hoàn toàn không thể chỉ là mong muốn chủ quan từ phía Việt Nam cũng như không bao giờ là sự áp đặt, giật dây từ phía Trung Quốc như bè lũ phản động đang cố tình tuyên truyền, xuyên tạc. Công hay tội thì lịch sử vẫn còn đó, nhưng những kẻ cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, cố tình đi ngược lại ý chí và nguyện vọng của dân tộc thì kẻ đó mãi mãi bị lịch sử chôn vùi./.

[1] http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Chinh-tri/933431/dai-tuong-le-duc-anh—vi-tuong-tai-ba-cua-quan-doi-nhan-dan-viet-nam

[2] https://thanhnien.vn/thoi-su/dai-tuong-le-duc-anh-voi-loi-the-o-truong-sa-1074211.html

Bình luận bằng tài khoản Facebook

One thought on “Đại tướng Lê Đức Anh – những chiến công không thể phủ nhận

  • 16 Tháng Năm, 2019 at 3:43 chiều
    Permalink

    Những cống hiến to lớn của Đại tướng Lê Đức Anh đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, hạnh phúc cho nhân dân là không thể xuyên tạc.

    Reply

Gửi phản hồi

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

shares