BẢN CHẤT CỦA DÂN CHỦ: KHÔNG CÓ “PHÉP THỬ DUY NHẤT” NÀO MANG TÊN ĐA ĐẢNG
Trên một số diễn đàn, mạng xã hội xuất hiện luận điệu cho rằng: “Nếu nhân dân không còn quyền thay đổi người cầm quyền bằng con đường hòa bình, hợp pháp, thì đó không phải chính quyền của dân”, thậm chí coi khả năng thay đổi người lãnh đạo qua cạnh tranh chính trị là “phép thử duy nhất” của chính quyền của dân. Cách lập luận này đã đồng nhất dân chủ với một mô hình tổ chức chính trị nhất định, từ đó phủ nhận những phương thức và tiêu chí khác để đánh giá quyền làm chủ của nhân dân. Cần nhận diện và đấu tranh với quan điểm sai trái này.
Thứ nhất, cạnh tranh chính trị và mô hình đa đảng không phải là “phép thử duy nhất” để xác định bản chất của dân chủ.
Về bản chất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, thể hiện trước hết ở việc nhân dân có quyền tham gia vào đời sống chính trị, xã hội; quyền lực nhà nước được tổ chức, thực thi và kiểm soát vì lợi ích của nhân dân; các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân được tôn trọng, bảo đảm và thực hiện trên thực tế. Vì vậy, không thể giản đơn lấy sự tồn tại của nhiều đảng phái hay khả năng thay đổi chính quyền thông qua cạnh tranh giữa các đảng làm tiêu chí duy nhất để phán xét một nền dân chủ.
Đa đảng là một phương thức tổ chức đời sống chính trị được áp dụng ở nhiều quốc gia, nhưng đó không phải mô hình duy nhất của dân chủ. Ngay trong các quốc gia có chế độ đa đảng, mức độ thực hiện dân chủ vẫn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng người dân tham gia chính trị, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền, mức độ bảo đảm các quyền công dân, hiệu quả kiểm soát quyền lực và khả năng chính sách đáp ứng lợi ích xã hội. Do đó, việc tuyệt đối hóa một cơ chế cạnh tranh chính trị thành “phép thử duy nhất” là cách tiếp cận phiến diện, không phản ánh đầy đủ tính đa dạng của các mô hình dân chủ trên thế giới.
Đối với Việt Nam, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xác định trên nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện thông qua cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; thông qua hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, cũng như các hình thức tham gia, giám sát, phản biện và thực hiện quyền làm chủ ở cơ sở. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thể hiện cách tiếp cận coi nhân dân là chủ thể của quá trình xây dựng và thực thi quyền lực nhà nước. Vì vậy, đánh giá dân chủ ở Việt Nam cần căn cứ vào tổng thể cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và kết quả thực hiện các quyền đó trong thực tiễn, thay vì áp đặt một tiêu chí duy nhất là sự cạnh tranh giữa các đảng phái.
Thứ hai, phát huy dân chủ ở Việt Nam phải gắn với hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ thực chất của nhân dân và giữ vững ổn định chính trị – xã hội.
Coi đa đảng là điều kiện bắt buộc để có dân chủ không chỉ là sự đơn giản hóa về lý luận mà còn dễ dẫn đến cách nhìn thiếu đầy đủ về mối quan hệ giữa dân chủ, quyền lực nhà nước, ổn định chính trị và phát triển đất nước. Dân chủ không đồng nghĩa với việc chỉ thay đổi người lãnh đạo; quan trọng hơn là quyền lực phải được kiểm soát, hoạt động của bộ máy nhà nước phải hướng tới phục vụ nhân dân, người dân có các kênh hợp pháp để tham gia, giám sát và phản ánh ý kiến, nguyện vọng của mình. Đối với Việt Nam, yêu cầu đặt ra không phải là sao chép một mô hình chính trị có sẵn, mà là tiếp tục hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng cường kiểm soát quyền lực; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; đồng thời mở rộng các hình thức để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, giám sát và phản biện đối với hoạt động của cơ quan công quyền.
Cũng cần thấy rằng, ổn định chính trị – xã hội và dân chủ không phải hai giá trị đối lập. Một nền dân chủ thực chất phải tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền làm chủ trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và nâng cao đời sống nhân dân. Bởi vậy, mọi sự thay đổi về tổ chức và phương thức thực thi quyền lực chính trị đều cần được xem xét trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc của mỗi nước. Thực tiễn Việt Nam cho thấy, phát huy dân chủ là một quá trình thường xuyên, gắn với xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, hoàn thiện pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện dân chủ cần được nhìn nhận thẳng thắn để khắc phục; đồng thời không thể vì những vấn đề cụ thể mà phủ nhận toàn bộ cơ chế và những kết quả đã đạt được trong bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
Tóm lại, luận điệu coi khả năng thay đổi người lãnh đạo thông qua cạnh tranh chính trị là “phép thử duy nhất” của dân chủ đã thu hẹp một vấn đề phức tạp vào một tiêu chí đơn nhất. Trong khi bản chất của dân chủ cần được xem xét từ việc nhân dân có thực sự là chủ thể của quyền lực hay không, quyền lực có được tổ chức và kiểm soát theo pháp luật hay không, các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân có được bảo đảm trên thực tế hay không. Với Việt Nam, tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền và giữ vững ổn định để phát triển là những yêu cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đây cũng là cơ sở để bác bỏ cách nhìn phiến diện đồng nhất dân chủ với một mô hình đa đảng duy nhất./.

Đối với Việt Nam, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xác định trên nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.
Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thể hiện cách tiếp cận coi nhân dân là chủ thể của quá trình xây dựng và thực thi quyền lực nhà nước.