90 NĂM VINH QUANG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (Kỳ 3)

  1. Đảng lãnh đạo lập nên kỳ tích trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc

Sau ngày thống nhất, cả nước bước vào công cuộc xây dựng CNXH, phải đối diện với những thách thức, khó khăn gay gắt cả trong nước, khu vực và trên trường quốc tế. Sự nghiệp xây dựng CNXH là nhiệm vụ nặng nề của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo, tuy có được những thành tựu quan trọng, song cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém, thậm chí sai lầm, khuyết điểm. Thực tế đó đòi hỏi Đảng phải nắm bắt đặc điểm, thực tiễn của đất nước, đổi mới tư duy lý luận, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, nóng vội để nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan, những đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH. Đường lối đổi mới của Đảng tại Đại hội VI (12-1986) đã được hoạch định trên cơ sở đó.

Bước vào thập kỷ 90, trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, tình hình đất nước muôn vàn khó khăn, nhất là sau khi chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, Đảng đã kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, giữ vững vai trò lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua sóng gió, tiếp tục tiến lên, tiến hành công cuộc đổi mới. Đảng đã kiên trì lãnh đạo, từng bước bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH tại Đại hội VII (6-1991) và bổ sung Cương lĩnh 1991 tại Đại hội XI (1-2011). Trên cơ sở đó, bước đầu hình thành hệ thống các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khai phá con đường đi lên CNXH phù hợp với thực tế đất nước. Đại hội XII của Đảng (1-2016) khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đây là kết quả của một quá trình trăn trở, tìm tòi, tổng kết, đổi mới tư duy lý luận nhận thức đúng đắn hơn về thực tiễn cách mạng Việt Nam của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đã làm biến đổi, phát triển đất nước cả về chính trị, kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, khẳng định vị thế của đất nước trong đời sống chính trị, kinh tế của thế giới.

Trên lĩnh vực kinh tế, đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh và ổn định, cơ sở vật chất – kỹ thuật được tăng cường, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. GDP trung bình hàng năm đạt gần 7%. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 200 USD (1990) lên 2.200 USD (2015) và 2.985 USD (2019), hình thành nhiều ngành kinh tế mũi nhọn, giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước được hình thành. Kinh tế Việt Nam hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới, có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ; ký hiệp định thương mại song phương với hơn 100 nước, trong đó có 20 hiệp định thế hệ mới. Riêng năm 2019, GDP đạt 7,02%, đây là năm thứ hai liên tiếp tăng trưởng kinh tế đạt trên 7% kể từ năm 2011. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát thấp nhất trong 3 năm qua. Công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ thị trường đóng vai trò động lực phát triển kinh tế. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa vượt mốc 500 tỷ USD.

Về văn hóa, xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân được cải thiện một bước. Chú trọng xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam phát triển toàn diện. Công tác giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả tốt: tỷ lệ nghèo đói giảm từ 53 % (1993) xuống còn dưới 5,0% (2019). Đến nay, Việt Nam đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu Thiên niên kỷ do Liên Hợp quốc đề ra.

Về xây dựng hệ thống chính trị, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đạt được những kết quả bước đầu. Quốc hội đẩy mạnh xây dựng luật pháp. Nền hành chính quốc gia được cải cách một bước. Quốc hội đã từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động theo hình thức nhà nước pháp quyền XHCN. Bộ máy Chính phủ và chính quyền địa phương được kiện toàn một bước. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên từng bước được đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động phù hợp với tình hình mới.

 Về đối ngoại, Việt Nam đã phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa; giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991), Hoa Kỳ (1995), gia nhập ASEAN (1995), WTO (2006); mở rộng quan hệ hợp tác với các nước lớn: Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và các nước tư bản phát triển: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức, Ý…; ký kết Hiệp ước chiến lược và Hiệp ước toàn diện với nhiều nước trên thế giới. Từng bước giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ biển, đảo với các nước liên quan. Tăng cường đàm phán, ký kết các Hiệp ước Thương mại tự do với ASEAN, EU, Mỹ, tranh thủ ODA, thu hút FDI, mở rộng thị trường ngoài nước, chủ động hội nhập quốc tế.

Về quốc phòng – an ninh, thành tựu cơ bản, bao trùm là giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ củng cố an ninh, quốc phòng với chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; vô hiệu hóa hoạt động của các đối tượng phản động trong và ngoài nước lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, để gây mất ổn định. Chú trọng xây dựng, phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước; xây dựng LLVT, nhất là quân đội và công an theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng được thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.

Về công tác xây dựng Đảng, Đảng đã vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; từng bước nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thống nhất tư tưởng trên những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối; phê phán các quan điểm sai trái, thù địch… Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và tầm trí tuệ của Đảng. Thực hành Đảng lãnh đạo, cầm quyền thông qua Nhà nước và hệ thống chính trị. Hệ thống tổ chức của Đảng và Nhà nước từng bước được kiện toàn theo hướng tinh gọn. Đổi mới công tác cán bộ trên cơ sở lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất, năng lực của cán bộ; bước đầu đổi mới phương thức lãnh đạo trên cơ sở coi trọng lãnh đạo thể chế hóa nghị quyết, lãnh đạo xây dựng luật và pháp lệnh, khắc phục tình trạng áp đặt, bao biện, làm thay.

Từ thành tựu của công cuộc đổi mới mà nhận thức của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn về mục tiêu và mô hình của xã hội XHCN do nhân dân ta xây dựng. Những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, con người và chặng đường bước đi của thời kỳ quá độ lên CNXH cũng được thực tiễn làm rõ để nhận thức đúng đắn hơn.

Hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hướng tới mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng trưởng thành và có thêm kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng và bảo vệ đất nước trong hoàn cảnh mới. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của đất nước sau gần 45 năm thống nhất càng khẳng định vai trò lãnh đạo xuất sắc của Đảng và minh chứng rõ ràng Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ tài giỏi trong lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn tài giỏi trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Bình luận bằng tài khoản Facebook

Leave a Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

shares