“Liên minh quân sự” – nên hay không? (Kỳ một)

Trước những diễn biến phức tạp về tình hình chủ quyền biển đảo và đặc biệt là sự việc xảy ra tại bãi Tư Chính trong thời gian gần đây, một số người, với danh nghĩa “tư vấn”, “đóng góp ý kiến”, đã đưa ra yêu sách, đòi hỏi Việt Nam phải thiết lập và tham gia các liên minh quân sự với nước ngoài. Liệu đây có thực sự là điều cần thiết với Việt Nam lúc này hay không? Mục đích của những lời kêu gọi, “tư vấn” đó là gì và tại sao họ lại sốt sắng khi hô hào Việt Nam phải liên minh quân sự để bảo vệ chủ quyền trên biển?

Liên minh quân sự – một hiện tượng khá phổ biến trong lịch sử, luôn bao hàm cả mặt tích cực và tiêu cực

Trong lịch sử, chúng ta đã từng biết đến nhiều liên minh quân sự với nhiều nội dung, hình thức, cấp độ và mục đích khác nhau. Có liên minh quân sự nhằm bảo vệ hòa bình, tự vệ, chống xâm lược, có liên minh là nhằm để xâm lược, nô dịch quốc gia, dân tộc khác; có liên minh giữa các lực lượng, giữa các tộc người hoặc giữa các quốc gia, dân tộc; có liên minh quân sự ở dạng gián tiếp, hỗ trợ, răn đe, có liên minh quân sự dạng trực tiếp tham chiến… Điển hình như: Liên minh Peloponnisos được lãnh đạo bởi người Sparta đã đánh bại Liên minh Delos do Athens dẫn đầu (431 đến 404 TCN); Liên minh Tin lành và Liên minh Thiên chúa giáo trong cuộc chiến tranh 30 năm (1618-1648); Liên minh châu Âu chống Napoleon cuối thế kỷ 18; phe Hiệp ước (Anh, Pháp, Nga) và phe Liên minh (Đức, Ý, Áo, Hung) trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất; phe Trục và phe Đồng Minh trong Thế chiến thứ hai; khối quân sự NATO, Vacsava, SEATO trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh,…

Bên cạnh đó, còn một dạng cũng khá phổ biến khác, đó là “liên minh” được dựa trên sự hòa hoãn tạm thời, hoặc giả vờ hòa hoãn, hoặc liên minh để “ngọa sơn quan hổ đấu”, thậm chí trong một số tình huống cụ thể, “liên minh” đó còn là vỏ bọc để bất ngờ tiến công một nước trong liên minh. Điển hình là sự kiện tháng 6 năm 1941, quân đội Đức Quốc xã đã bất ngờ nổ súng tấn công Liên Xô, chính thức xóa bỏ Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau được ký kết vào năm 1939 giữa hai nước này; hay câu chuyện “mượn đường diệt Quắc” trong lịch sử Trung Hoa,… là những ví dụ tiêu biểu.

Từ thực tiễn lịch sử đó, ở Việt Nam đã khái quát: “liên minh quân sự là sự liên kết hoạt động quân sự giữa hai hoặc nhiều nước hay tập đoàn chính trị trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích. Liên minh quân sự có thể tổ chức ra khối quân sự hoặc chỉ lập thành đơn vị chiến đấu chung. Tùy thuộc vào mục đích chính trị, liên minh quân sự có thể là tiến bộ hay phản động, tự vệ hay xâm lược”.

Như vậy, mặt tích cực của liên minh quân sự là gia tăng được sức mạnh quân sự, quốc phòng hoặc tạo sự chuyển hóa về lực lượng, thế trận quân sự cho các thành viên tham gia liên minh. Nhưng mặt tiêu cực của nó lại làm gia tăng căng thẳng và đối đầu giữa các nước trong và ngoài liên minh, nhất là khi giữa các nước đã vốn sẵn có những mâu thuẫn về lợi ích. Thực tế lịch sử chỉ ra rằng, việc hai quốc gia cùng tham gia vào một liên minh cũng có thể bị một nước thứ ba coi là hành động thù địch và thông thường thì hệ quả của nó sẽ là tình trạng chạy đua vũ trang, gia tăng các hoạt động quân sự, đẩy các nước trong liên minh và lực lượng đối lập đến gần hơn “miệng hố chiến tranh”. Ngoài ra, nó còn là nguy cơ bị tiến công bất ngờ bởi chính “đồng minh”, nếu chủ quan, mất cảnh giác.

Mặt khác, một sự thật hiển nhiên là, các quốc gia yếu thế hơn trong một liên minh nhất định, đều phải từ bỏ hoặc từ bỏ một phần lợi ích căn bản của mình, đặc biệt là quyền dân tộc tự quyết. Đánh mất điều đó, họ dễ dàng trở thành “vật hy sinh”, “con tốt trên bàn cờ” để các nước lớn, các tập đoàn quân sự, tài phiệt hùng mạnh thỏa hiệp với nhau… Những gì đang diễn ra gần đây trong tranh chấp chủ quyền trên biển của Philippines, hay hội đàm Triều Tiên và Mỹ về vấn đề hòa bình của bán đảo này… là minh chứng rõ ràng một thực tế: không có một nước nào hy sinh lợi ích của dân tộc mình vì lợi ích của một dân tộc khác, kể cả dân tộc đó có là đồng minh. Hơn thế nữa, bài học về cuộc nội chiến ở Syria, xung đột ở Ucraina, sự leo thang quân sự ở Irắc,… đã chỉ ra, một trong những nguyên nhân và “ngòi nổ” của nó chính là sự thiếu nhất quán trong chính sách đối nội và đối ngoại, không tôn trọng nguyên tắc độc lập và tự chủ. Chính phủ và ngay cả một bộ phận nhân dân các nước này luôn trông chờ sự “cứu giúp” của các thế lực bên ngoài. Họ biết đâu rằng, đằng sau sự “giúp đỡ” tưởng như vô tư đó là cả một mưu đồ tham vọng về lợi ích chiến lược của các cường quốc. Hòa bình chưa thấy, nhưng hậu quả về sự chia cắt, tàn phá, “nồi da nấu thịt”, kéo lùi sự phát triển của đất nước lại hiện hữu và khó bề khắc phục.

Tựu chung, tính chất tích cực và tiêu cực của liên minh quân sự luôn đan xen, chuyển hóa lẫn nhau, tác động trực tiếp đến hòa bình, ổn định và an ninh của đất nước, khu vực và thế giới; và chiến tranh, nguy cơ chiến tranh, xung đột vũ trang, chạy đua vũ trang… chắc chắn là điều mà không một lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hào bình nào trên thế giới mong muốn.

Bình luận bằng tài khoản Facebook

2 thoughts on ““Liên minh quân sự” – nên hay không? (Kỳ một)

  • Pingback:“Liên minh quân sự” – nên hay không? (Kỳ một) |

  • 22 Tháng Mười Một, 2019 at 11:47 sáng
    Permalink

    Vẫn có những hình thức hợp tác về quân sự nhưng chưa đến mức như các hiệp ước quân sự, sẽ vẫn đạt được các mục tiêu tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước mà vẫn đảm bảo với chính sách 3 không.

    Reply

Gửi phản hồi

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

shares